Tin y dược

Những điều bạn nên biết về ung thư trực tràng

Ung thư đại trực tràng là bệnh lý có tỷ lệ tử vong đứng thứ hai (sau ung thư phổi) trong các loại ung thư tại Mỹ và đứng thứ ba về mặt tần suất xuất hiện ở cả hai giới nam và nữ. Mỗi năm trên toàn thế giới có gần một triệu ca mới mắc bệnh, chiếm từ 9-10% trong các loại ung thư. Tỷ lệ mắc bệnh này cao nhất tại Châu Âu, Mỹ, Úc và New Zealand; thấp nhất được ghi nhận tại Ấn Độ, Nam Mỹ và Các tiểu vương quốc Arap. Người dân nông thôn có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn dân thành thị.

Nguyên nhân dẫn đến ung thư trực tràng:

+ Polyp trực tràng:

Polyp mọc bên trong của đại tràng hoặc trực tràng. Hầu hết các polyp là lành tính nhưng một số đó có thể biến thành ung thư đại trực tràng nếu không được loại bỏ sớm. Hai loại polyp đường ruột phổ biến nhất là adenomas và polyp hyperplastic. 

                                                                        

Polyp Hyperplastic

Đây là loại polyp bình thường được hình thành ở trực tràng hoặc vị trí thấp hơn ở đại tràng.  Chúng có kích thước nhỏ và có ít nguy cơ biến chứng thành ung thư nhất. Theo Trường Cao đẳng Nghiên cứu bệnh học Mỹ, polyp hyperplastic  là loại polyp thường gặp nhất và hay được phát hiện ở những người trong độ tuổi từ 50 đến 70. Chúng phát triển  chậm và tiếp tục phát triển nếu không được phát hiện và loại bỏ bằng phương pháp nội soi.

Tubular Adenoma

Khoảng 10% tất cả các polyp đại tràng là u tuyến. Tubular Adenoma là loại phổ biến nhất và có thể hình thành ở bất cứ vị trí nào trong đại tràng. Một nhân viên của Trung tâm Nội soi cho biết, khi chúng phát triển có thể dẫn tới ung thư. Tubular Adenoma xuất hiện mà không gây ra bất cứ triệu chứng nào cả. Nếu được phát hiện sớm bằng phương pháp nội soi, Tubular Adenoma có thể được loại bỏ trước khi các tế bào ung thư có cơ hội hình thành.

+ Thói quen ăn uống hàng ngày: Sự trao đổi chất của mỡ động vật cùng với ăn món ít chất xơ  làm chậm sự tiêu hóa của đại trực tràng, tăng sự hấp thụ độc tố.

 

+ Tiểu sử cá nhân bị ung thư: Một người đã bị ung thư đại trực tràng có thể phát triển ung thư đại trực tràng lần thứ hai. Ngoài ra, phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, tử cung (nội mạc tử cung), hoặc ung thư vú có nguy cơ cao hơn một chút bị phát triển ung thư đại trực tràng.

+ Yếu tố gia đình:Nếu bạn có một tiền sử gia đình dương tính của bệnh ung thư đại trực tràng, bạn có nhiều khả năng hơn những người khác bị phát triển căn bệnh này, đặc biệt là nếu người thân của bạn đã bị ung thư khi còn trẻ.

+ Các yếu tố về lối sống:Những người hút thuốc lá, hoặc dùng một chế độ ăn nhiều thịt đỏ hoặc bị chế biến và ít chất xơ có nguy cơ tăng cao ung thư đại trực tràng.

+ Yếu tố về tuổi tác :Ung thư đại trực tràng có nhiều khả năng xảy ra đối với những người lớn tuổi. Hơn 90 phần trăm số người mắc bệnh này được chẩn đoán sau tuổi 50 và lớn hơn.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư đại trực tràng phụ thuộc vào vị trí của khối u trong ruột, và nó có thể đã lan rộng ra những nơi khác trong cơ thể (di căn). Các dấu hiệu cảnh báo sớm bao gồm: táo bón, đi ngoài phân nhỏ, ra máu, co thắt dạ dày, chán ăn, mệt mỏi, sút cân không rõ nguyên nhân, và buồn nôn hoặc nôn ở một người trên 50 tuổi. Thông thường, các triệu chứng này không phải do ung thư. Các vấn đề sức khỏe khác có thể gây ra một số các triệu chứng này. Ung thư giai đoạn đầu thường không gây đau. Trong khi chảy máu trực tràng hoặc thiếu máulà đặc điểm nguy cơ cao ở những người trên 50 tuổi, các triệu chứng khác thường được mô tả bao gồm giảm cân và thay đổi thói quen đi tiêu thường chỉ liên quan nếu kết hợp với chảy máu.

Các biện pháp phát hiện ung thư trực tràng:

+ Soi đại tràng Sigma

Kiểm tra trực tràng và phần dưới của đại tràng với một ống soi.

Sự phát triển tiền ung thư và ung thư trực tràng và phần dưới của đại tràng có thể được tìm thấy và hoặc được lấy ra hoặc được sinh thiết.

+ Soi đại tràng Sigma

Kiểm tra trực tràng và toàn bộ đại tràng bằng ống nội soi đại tràng. Sự phát triển tiền ung thư và ung thư trong toàn bộ đại tràng có thể được tìm thấy và hoặc được lấy ra hoặc được sinh thiết, bao gồm cả sự phát triển ở phần trên của đại tràng, nơi chúng sẽ bị bỏ qua bởi soi đại trực tràng sigma.

+ Bơm thụt Bari

Thủ pháp này liên quan đến việc làm đầy đại tràng và trực tràng với một chất lỏng màu trắng (Bari) để nâng cao các hình ảnh X-quang. Các bất thường (chẳng hạn như polip) có thể được nhìn thấy rõ rang.

+ Xét nghiệm máu trong phân

Đôi khi các ung thư hay các u thịt (polip) gây chảy máu, và xét nghiệm FOBT có thể phát hiện một lượng nhỏ máu trong phân. Nếu xét nghiệm này cho thấy có máu, khi đó các xét nghiệm khác là cần thiết để tìm nguồn gốc của máu. Các tình trạng lành tính (như bệnh trĩ), cũng có thể gây ra máu trong xét nghiệm này.

+ Sinh thiết:

Các bác sĩ sẽ lấy mẫu ở bất kỳ phần nào của trực tràng mà họ nghi ngờ và nghiên cứu chúng dưới kính hiển vi để xác định xem liệu đó có phải là ung thư hay không.

Chữa trị:

+ Phẫu thuật:

Là lựa chọn đầu tiên trong điều trị ung thư trực tràng. Phẫu thuật cắt đoạn đại, trực tràng mang khối u – nối tận tận hay phẫu thuật Miles đối với các trường hợp ung thư trực tràng thấp. Hiện nay, phãu thuật nội soi ngày càng phát triển và có hiệu quả tương đương với việc mổ hở kinh điển song lại có hiệu quả vượt trội về mặt thẩm mỹ, giảm chi phí nằm viện và ít sử dụng thuốc giảm đau.

+ Hóa trị:

Giúp cải thiện tiên lượng sống còn của bệnh nhân và làm giảm nguy cơ tái phát bệnh sau mổ. Hóa chất được sử dụng thông dụng nhất là 5FU, capecitabine, irinotecan và oxaliplatin. Phác đồ FOLFOX hay FOLFIRI ± Bevacizumab được xem như là phác đồ chuẩn đầu tiên được áp dụng bởi hầu hết các BS ung thư.

+ Xạ trị:

Có hiệu quả trong ung thư trực tràng: giúp điều trị bệnh, giảm giai đoạn bệnh, giảm kích thước khối u, hoặc xạ trị chăm sóc giảm nhẹ.

Tại châu Âu, tỷ lệ sống sót sau năm năm đối với ung thư đại trực tràng là ít hơn 60%. Tại các nước phát triển khoảng một phần ba trong số những người mắc bệnh chết.

Tỉ lệ sống sót liên quan trực tiếp đến việc phát hiện và loại ung thư, nhưng nhìn chung là thấp cho bệnh ung thư đã có triệu chứng, vì chúng thường phát triển khá nhanh. Tỷ lệ sống sót để phát hiện giai đoạn sớm là cao khoảng năm lần so với bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Theo thống kê của Hiệp hội Ung thư Mỹ vào năm 2006, hơn 20% những người bị ung thư đại trực tràng đến chăm sóc y tế khi bệnh đã tiến (giai đoạn IV), và lên đến 25% của nhóm này sẽ bị cô lập di căn gan đó là có khả năng cắt bỏ. Trong nhóm này, những người trải qua chữa trị cắt bỏ có kết quả sống sót năm năm là một phần ba các trường hợp.

650 views


0986 859 777